Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Những người có công xây dựng và tu sửa đình mới tại làng Thượng Nhiễm

     Làng Thượng Nhiễm huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín, nay thuộc xã Khánh Hà huyện Thường Tín. Bản điều lệ của làng hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AF. a2/95

Những người có công xây dựng và tu sửa đình làng Thượng Nhiễm

     Năm Nhâm Ngọ, năm Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng hán giáp đã sửa sang xây dựng ngồi đình mới hơn trong 3 gian bên ngoài ngang 3 gian dùng gỗ mới lợp ngói. Sửa sang được như vậy là nhờ sự cố gắng nỗ lực của mọi người. Họ tên những người có đóng góp được liệt kê dưới đây:

     Sinh đồ Vũ Quốc Cơ, sinh đổ Vũ Bá Kiên, Cục chính Dương Xuân Khang, Xã trưởng Nguyễn Văn Chiến, Cai hợp Phạm Hoan, Cục chính Nguyễn Nha Thân, Huyện thừa Hoàng Trung Tuấn, Cai hợp Nguyễn Nha Cẩn, Cục phó Doãn Trọng…, Huyôn thừa Vũ Đãng Thuyôn, Kiêm thừa Vũ Trọng Doãn, Đồng châu Vũ Trọng Khuông, Công thẩn Lê Nguyễn Trúc, Phó sở Nguyễn Trọng Đĩnh, Kiêm sự Vũ Hữu Thế, Sinh đồ Nguyễn Thường Hiến, Giám sinh Lê Huy Vượng, Nho sinh Lê Quý Đình, Cục phó Lương Bá Nhạc, Cục phó Nguyễn Đình Chiến, Nho sinh Dương Cung, Đồng châu Nguyễn Đình Quý, Sinh đồ Đỗ Thanh Khương, Cục phó Trần Văn Viêm, Thủ hợp Vũ Huy Sung, Sinh đồ Vũ Tào Thực, Nho sinh Vũ Trọng Nghi… tất cả gồm 30 người.

     Các năm Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Qúy Mùi niên hiệu Minh Mệnh bản giáp tu sửa đình vũ, mặt quay hướng nam, sau đó đổi đằng sau thành đằng trước, dùng ngói gạch gỗ sửa mới hoàn toàn. Họ tên những người tích cực đóng góp vào việc tu sửa được liệt kê dưới đây.

     Giám sinh Nguyễn Thực, Ty quan Hoàng Thọ Bảo, Hương sinh Nguyễn Nha Xứng, Sinh đồ Nguyễn Hằng, Hương viên Nguyễn Đức,Trình Như Vị, Nguyễn Nghỉ, Sinh đồ Hoàng Thọ Phổ, Trần Như Tư, Trần Oanh Phan. Tran Nha Tự, Trần Đình Phê, Nguyễn Trọng Phê, Nguvễn Trạng Vưu. Vù Huy Long: Vũ Huy Thịnh, Trần Thời Tôn, Trần Như Đông, Nguyễn Kim Quy,Nguyễn Hữu Quyền, Phạm Đình Đạt, Nauvền Dinh Hoa.

Các điều khoán ước gồm:

Điều 1: Năm Giáp Thân trở về sau bắt đầu có lễ nhập hương ẩm. Từ trên xuống dưới mỗi viên đều phải biện một tráp có 12 khẩu trầu, ai cũng phải tề chỉnh sạch sẽ. chia nhau trực ở đinh cả ngày lẫn đêm. Nếu ai vắng mặt hoặc không tề chỉnh sẽ bất phạt 36 văn tiền cổ. Đến ngàv 19 làm lễ xuất tịch phái biện 2 miếng thịt lợn. 1 mâm xôi to, 6 quan tiền cổ, còn trầu cau thì trùm trướng mỗi viên 1 tráp đem đến đình.

Điều 2: Xôi gà từ lẻ Nhập tịch đến Xuất tịch phải 11 mâm; mỗi mâm 3 mạch cộng là 3 quan 3 mạch, ở đình thì tuỳ nghi kính biếu.

Điều 3: Cỗ cho giáo phường 3 đêm, mỗi đêm 3 mạch, làm tại đình.

Điều 4: Dầu tháp đèn từ lễ nhập tịch đến xuất tịch ngày đêm phải thắp, đèn trong đình đề phòng ở hai bên tả bên hữu quy định 2 quan tiền cổ do thủ từ mua phát tại đình.

Điều 5: Rượu cho tuần đình trong 3 đêm, mỗi đêm 1 mạch 30 văn.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước làng

Lệ làng về tang lễ, khuyến học và biếu đất

Điều 7: Lễ về tang lễ

     Ngày thành phục, nếu mổ bò thì chỉ cho mổ 1 con làm cỗ bàn để bày tế. Nếu mổ lợn thì mời ban lễ nhạc để hướng dẫn lễ nghi. Lễ dùng thịt dù là thịt bò hay lợn chỉ dùng 4 đĩa. Duy cỗ cho ban lễ thì có thêm 1 thủ bò hoặc thủ lợn, 6 đấu xôi; giáp Nhạc đặt 1 thủ lợn, 3 đấu xôi. Lễ cũ mỗi mâm 7 đĩa thịt cùng bánh tròn đều cấm chỉ.

Lệ làng về tang lễ, khuyến học và biếu đất

     Ngày đưa tang, tiền tế hay hậu tế chỉ dùng 1 chiếu hoặc 1 bàn lễ ở giữa đường đưa tang. Duy bản giáp 2 cỗ và ban nhạc hành lẽ cỗ bàn các khoản chiếu theo lễ của năm Thiệu Trị thứ 3 (1843). Duy đồ mạ vàng chỉ dùng4 đĩa trở xuống, nếu có bánh vuông, bánh tròn thì mỗi mâm 6 chiếc. Bánh vuông cứ mỗi đấu gạo làm 3 chiếc, bánh tròn mỗi kiện gạo làm 6 gộp (cặp). Nếu không có bánh chưng thì làm như cỗ thảo, bằng không có bánh cũng được.

     Phàm việc tang lễ nếu có mổ bò hoặc trước hoặc sau thì đặt ở bản giáp một khoanh cổ bò, 10 đấu xôi, 10 vò rượu, trầu cau theo như cũ. Nếu kiệm ước thì chỉ nộp bản giáp 1 con lợn giá 3 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, trầu cau theo như cũ. Việc làm cỗ bàn mời các hàng lễ điếu đều cấm.

Điều 8: Việc khuyến học và biếu đất

     Trong làng người nào đỗ tiến sĩ làng mừng 100 quan tiền và biếu 1 mẫu đất bãi; đỗ cử nhân mừng 60 quan tiền, biếu 6 sào đất bãi; đỗ tú tài mừng 20 quan, biếu 3 sào đất bãi.

     Còn như các hạng tạp lưu võ biền, quan tứ phẩm trở lên được biếu 6 sào đất bãi. Ai được bổ làm cai tổng hoặc được bổ dụng thí sai (viên chức chưa vào chính ngạch) đều được biếu 2 sào đất bãi. Còn như lý trưởng, phó lý thì cấp cho mỗi người 1 sào đất bãi để tỏ rõ sự ưu đãi riêng.

Điều 9: Lễ khao vọng

     Người nào dự trúng khoa trường phải làm lễ vọng 1 con lợn giá 3 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, đãi các hàng trong làng ăn uống ở đình.

     Người nào muốn vọng tư văn thì nộp 1 con lợn giá 3 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, 100 khẩu trầu cau đệ ờ văn chỉ kính lễ tiên hiền. Lễ xong, giáp đương cai thông báo mời toàn giáp lễ đến ăn uống.

Điều 10: Trong hội tư văn cứ chức y quan lễ nhạc sở tại đâu có thể xem nhẹ, người nào muốn vọng vào thì phải trình báo với quan trưởng tư văn cùng với quan khoa mục xem xét. Bản thôn chiếu thu tiền 100 quan dùng để chi cho các việc chung. Lễ vọng này chiếu theo khoa trường (mức đỗ); còn việc bày cỗ ở nhà để khoản đãi các hàng đều cấm. 


Lệ làng xã Thượng Cát về các lễ tiết, thờ cúng

    Hương lộ xã Thượng Cát huyện Từ Liêm, lập nămTự Đức thứ 7 Nguyên bản chữ Hán, ký hiệu A. 721, tại Thư viện Viện Nghiện cúw Hán Nôm.

    Hương lễ xã Thượng Cát

Lệ làng xã Thượng Cát về các lễ tiết, thờ cúng

    Làng có lệ cũng như nước có luật. Nước có luật là để giữ vẹn nước, làng có lễ để chỉnh đốn phong tục, nên không thể thiếu được. Từ khi có làng ta đến nay, các việc quan, hôn, tang, tế kính biếu chúc mừng hav có sự lạm vượt, tuy đã từng được sửa đổi nhưng giảm được cái này thì lại tăng cái kia, vẫn theo như cũ, trong đó chứa cả những cái tệ hại.

    Nay các kỳ mục trong làng cùng nhau sửa sang các điếu thường gặp. Từ đây trở đi chiếu theo khoán lễ, ai dám vi phạm sẽ bị phạt nặng. Điệa lệnày được trình bày ởdưới đây.

Điều 1: Việc thờ cúng thần các tiết

    Tư văn, kỳ lão, sắc mục, thôn trưởng chỉnh tề áo mũ để chuẩn bị tế ai sai sót bị phạt trầu rượu bằng tiền là 1 quan 2 mạch.

Điều 2: Ngày 16 tháng 3 nghênh thần

    Có lệ bàn giao đồ tế khí rước thân, các cựu thôn trưởng giao đồ tế khí cho tân thôn trưởng rước về phụng thờ. Thứ hạng làm đồ lễ: các lợn, xôi, rượu, trầu cau đều do đô trước đã chuẩn bị, ngoài ra mọi thứ đều cấm.

Điều 4: Tiết Thường tân (Cơm mới)

    Mua 1 con bò (hoặc trâu), cứ đúng ngày thì mổ dế tể, giáp trưởng chuẩn bị xôi, giết bò lợn làm cỗ mời mọi người ăn uống. Sáng sớm ngày chính nhật, các gia đình cáo tố trước, hát kính khoản nào đều bị cấm. Sau nghi tiết thờ thần, các gia đình bắt đầu  có thể được cáo lễ gia tiên.

Điu 5: Tiết Thượng điền

    Lễ dùng 2 con gà, giá mỗi con là 1 quan 2 mạch, 2 mâm xôi, mỗi mâm 10 đấu, 2 bình rượu, mỗi bình giá 200 mạch, trầu đủ dùng. Cỗ bàn khoản đãi ở nhà đều cấm,

Điều 6: Lễ giá thú (lấy vợ lấy chồng)

    Khi 2 gia đình xin ngày cưới, lý trưởng, thôn trưởng họp tại đình chiếu lễ lan nhai, thu tiền cheo là 1 quan 1 mạch 48 văn, l con gà gia tiên 1 quan 2 mạch, 1 mâm xôi 3 đấu, 1 bình rượu giá 1 mạch 30 văn, trầu cau đủ dùng, lại còn tiền nộp cho bản giáp 3 quan, 30 khẩu trầu; tiền cho bản phiên, bản xóm mỗi khoản là 3 mạch, 30 khẩu trầu. Đến như sính lễ, nhà gái chỉ đòi lấy 1 con lợn trị giá 10 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, trầu cau đủ dùng. Duy nội tộc và láng giềng thân thuộc họp ăn uống không được mời các hàng. Nếu nhà trai túng thiếu thì chỉ lấy tiền là 15 quan trở xuống, trầu cau đủ dùng. Đến lễ vu quy, chiểu theo ngũ phục nội tộc và láng giềng thân thuộc tuỳ nghi làm cỗ, các hàng tạp khác đều cấm chỉ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: làng là gì

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Quy định về việc hành văn, lễ thuế đối với dân làng

Điều 14: Bản xã giao 5 sào ruộng cho thú từ nhận cày cấy để lo việc đèn nhang. Ngày lễ nhập tịch, ban đêm làm lễ yết y như chủ tế, các lễ vật để kính biếu giống lễ cũ.

Quy định về việc hành văn, lễ thuế đối với dân làng

Điều 15: Việc hành văn

     Phàm các việc trong đình đều có văn tế và được biếu 1 mâm, còn như việc tế xuân, tế thu và việc hiếu hỷ ở các gia đình thì biếu 1 phần như lễ cũ.

Điều 16: Đương thứ lý trưởng, xã tuần phàm có việc tại đình thì việc biếu theo như lễ cũ.

Điều 17: Lễ ngày cúng mâm cỗ chay hàng năm gồm 6 mâm. Tế xong trừ lễ của các quan viên, hội tư văn công là 3 mâm, giáp vũ 1 mâm, đương cai 1 mâm, còn 1 mâm chia đều cho mọi người cùng thụ phúc theo lễ cũ.

Điều 18: Hễ nhà riêng nào có việc hiếu hỷ tham dự có văn tế, vin vũ thuộc đều được tế.

Điều 19: Sĩ tử đang theo học, xác minh có thực thì việc phiên phu, lao việc đều được miễn. Nếu thi đỗ nhất nhị trường thì cho vọng quan viên, được yết lễ khao. Lễ khao y như các ông khao thọ, được nhiêu miễn.

Điều 20: Chọn binh luân lưu các tộc, cứ nhiều đinh cường tráng thì chọn lấy 1 làm binh, cấp cho 2 mẫu ruộng làm lương thực ăn hàng tháng. Hạn trong 10 năm, ai mãn khoá thì được ngồi uống rượu cùng các quan viên, ai chưa mãn khoá thì trả trở lại. Người nào đã mãn khoá mà lại tình nguyện trở lại quân ngũ một khoá nữa sẽ cho 5 quan tiền, 1 suất nhiều lễ biếu quanh năm theo lễ cũ.

Điều 21: Lễ thuế.

     Thóc Ma quy điền (hạng 3) giao về các đinh phân nhận, tiền đắp để để nước thì người nhận ruộng ấy chịu. Còn như tiền sưu thì chiếu bổ mỗi lá quan, mỗi đinh 2 quan.

Điu 22: Lý trưởng hạn 2 năm 4 vụ là 1 khoá. Việc thuế lễ cùng các ổxkì của – giáp thu nạp. Người mãn khoá được miễn tiền trụ, nếu không làn hét khoá thì lấy tiền trụ 120 quan, số tiền ấy để ăn uống khi có lộ khao. Khi có lễ khao thì lễ biếu vẫn như cũ.

Điều 23: Hương trưởng lấy tiền trụ, lễ khao, lễ biếu giống như trưởng cũ.

Điều 24: Dần đinh làm xã tuần 3 năm thì được miễn phiên phu 6 năm, thì được miễn việc ăn uống theo với hạng lão.

Điu 25: Dân đinh và hoàng đinh nhập vọng tư văn phải sắm gạo nếp, gạo tẻ mỗi mâm 1 đấu, 1 con lợn, trầu rượu tuỳ, tiền 50 quan, để quan đem về, 4 giáp biếu 3 quan, biếu các quan viên, chủ tế, thổ từ.

Điều 26: Dân đinh vọng nhập giáp vũ lấy 15 quan tiền, 20 đấu gạo nếp, 10 đấu gạo tẻ. 1 con lợn, lấy 1 quan 4 mạch về, 4 giáp 1 quan 6 mạch biếu cac quan viên, còn bao nhiêu dùng cho việc công.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn hóa làng

Quy định về khen thưởng với những người làm rạng danh làng xã

     Từng nghe: Từ xưa đã muốn phong tục ấp ta được thuần hậu chất phác, nhưng những điều khoán ước lại chưa quy định được. Thế e rằng sẽ không động viên, răn đe được mọi người. Cho đến nay những điều đó đã có tổn ích tuỳ nghi mà phong tục ngày càng đổi mới, nên sẽ kê khai ra để lưu truyển mãi mãi. Xin liệt kẽ các điều như sau:

Quy định về khen thưởng với những người làm rạng danh làng xã

Điều 1: Các vị chức sắc hương lý hễ ai đến 70 tuổi trở lên thì các vị chức sắc hương dịch ấy sẽ ngồi riêng một hàng.

Điều 2: Hạng lão hễ ai đến tuổi 70 trở lên thì cùng ngồi 1 hàng riêng với lão hạng dân đinh.

Điều 3: Biền binh hễ viên nào đến 70 tuổi trở lên thì ngồi riêng một hàng.

Điều 4: Lễ chúc thọ các sắc mục, các biền binh thọ 70 tuổi trở lên dùng 1 bức trướng màu trắng, 1 buồng cau; Chúc thọ hạng lão dùng 1 đôi câu đối trên vải trắng, 1 buồng cau.

Điều 5: Ông được chúc thọ yết lễ bày thành 3 bàn, mỗi bàn 6 đấu, trà, quả tùy ý, toàn dân cùng vui vẻ. Lễ khao việc ăn uống tuỳ nghi. Phàm dự trong đình có văn tế, mọi người trong ba hàng đều được biếu mỗi ông 1 phần như phần những người ngồi.

Điều 6: Người đồ tú tài chúc mừng 1 bức trướng, biếu 5 sào ruộng. Người kế khoa được mừng bức trướng, biếu 2 sào rưỡi ruộng.

Điu 7: Trúng cử nhân tiến sĩ mừng trướng dùng vải gấm đỏ, biếu 5 sào ruộng.

Điều 8: Trúng võ cử, suất đội bổ thu trở lên, những người có phẩm hàm và chánh phó tổng bổ thu đều được mừng 1 bức trướng.

Điều 9: Cử nhân, tiến sĩ phàm đã dự trong đình có văn tế đều được biếu 1 bàn hoặc giết bò lợn được biếu nửa cái thủ.

Điều 10: Tú tài và võ cử cho đến suất đội bổ thụ trở lên, người nào có phẩm hàm, trong đình có văn tế đều được biếu 1 bàn, hoặc giết trâu, bò, lợn biếu một nửa nong.

Điều 11: Chính ngạch chánh phó tổng đương thứ một đôi câu đối bằng vải trắng. Biếu các tiết giống như cũ, như người được bổ thụ biếu giống như tú tài.

Điều 12: Phàm các vị có khoa mục, chức sắc mới được làm thủ chỉ, chủ tế, hành văn để tỏ sự trọng dụng.

Điều 13: Thủ chỉ, chủ tế lễ ngày nhập tịch, đem yết lẻ 12 đấu gạo nếp, 2 con gà, 4 bát chè, rượu, hoa quả tuỳ nghi. Lễ tế có thịt lợn, tế xong thịt lợn lại biếu như lễ biếu các lễ trong năm, cồn lại tư gia dùng. Các vị hương lý khao lễ được biếu 1 bàn y như các vị bàn ngồi.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lang van hoa cac dan toc