Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Những người có công xây dựng và tu sửa đình mới tại làng Thượng Nhiễm

     Làng Thượng Nhiễm huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín, nay thuộc xã Khánh Hà huyện Thường Tín. Bản điều lệ của làng hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AF. a2/95

Những người có công xây dựng và tu sửa đình làng Thượng Nhiễm

     Năm Nhâm Ngọ, năm Quý Mùi niên hiệu Cảnh Hưng hán giáp đã sửa sang xây dựng ngồi đình mới hơn trong 3 gian bên ngoài ngang 3 gian dùng gỗ mới lợp ngói. Sửa sang được như vậy là nhờ sự cố gắng nỗ lực của mọi người. Họ tên những người có đóng góp được liệt kê dưới đây:

     Sinh đồ Vũ Quốc Cơ, sinh đổ Vũ Bá Kiên, Cục chính Dương Xuân Khang, Xã trưởng Nguyễn Văn Chiến, Cai hợp Phạm Hoan, Cục chính Nguyễn Nha Thân, Huyện thừa Hoàng Trung Tuấn, Cai hợp Nguyễn Nha Cẩn, Cục phó Doãn Trọng…, Huyôn thừa Vũ Đãng Thuyôn, Kiêm thừa Vũ Trọng Doãn, Đồng châu Vũ Trọng Khuông, Công thẩn Lê Nguyễn Trúc, Phó sở Nguyễn Trọng Đĩnh, Kiêm sự Vũ Hữu Thế, Sinh đồ Nguyễn Thường Hiến, Giám sinh Lê Huy Vượng, Nho sinh Lê Quý Đình, Cục phó Lương Bá Nhạc, Cục phó Nguyễn Đình Chiến, Nho sinh Dương Cung, Đồng châu Nguyễn Đình Quý, Sinh đồ Đỗ Thanh Khương, Cục phó Trần Văn Viêm, Thủ hợp Vũ Huy Sung, Sinh đồ Vũ Tào Thực, Nho sinh Vũ Trọng Nghi… tất cả gồm 30 người.

     Các năm Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Qúy Mùi niên hiệu Minh Mệnh bản giáp tu sửa đình vũ, mặt quay hướng nam, sau đó đổi đằng sau thành đằng trước, dùng ngói gạch gỗ sửa mới hoàn toàn. Họ tên những người tích cực đóng góp vào việc tu sửa được liệt kê dưới đây.

     Giám sinh Nguyễn Thực, Ty quan Hoàng Thọ Bảo, Hương sinh Nguyễn Nha Xứng, Sinh đồ Nguyễn Hằng, Hương viên Nguyễn Đức,Trình Như Vị, Nguyễn Nghỉ, Sinh đồ Hoàng Thọ Phổ, Trần Như Tư, Trần Oanh Phan. Tran Nha Tự, Trần Đình Phê, Nguyễn Trọng Phê, Nguvễn Trạng Vưu. Vù Huy Long: Vũ Huy Thịnh, Trần Thời Tôn, Trần Như Đông, Nguyễn Kim Quy,Nguyễn Hữu Quyền, Phạm Đình Đạt, Nauvền Dinh Hoa.

Các điều khoán ước gồm:

Điều 1: Năm Giáp Thân trở về sau bắt đầu có lễ nhập hương ẩm. Từ trên xuống dưới mỗi viên đều phải biện một tráp có 12 khẩu trầu, ai cũng phải tề chỉnh sạch sẽ. chia nhau trực ở đinh cả ngày lẫn đêm. Nếu ai vắng mặt hoặc không tề chỉnh sẽ bất phạt 36 văn tiền cổ. Đến ngàv 19 làm lễ xuất tịch phái biện 2 miếng thịt lợn. 1 mâm xôi to, 6 quan tiền cổ, còn trầu cau thì trùm trướng mỗi viên 1 tráp đem đến đình.

Điều 2: Xôi gà từ lẻ Nhập tịch đến Xuất tịch phải 11 mâm; mỗi mâm 3 mạch cộng là 3 quan 3 mạch, ở đình thì tuỳ nghi kính biếu.

Điều 3: Cỗ cho giáo phường 3 đêm, mỗi đêm 3 mạch, làm tại đình.

Điều 4: Dầu tháp đèn từ lễ nhập tịch đến xuất tịch ngày đêm phải thắp, đèn trong đình đề phòng ở hai bên tả bên hữu quy định 2 quan tiền cổ do thủ từ mua phát tại đình.

Điều 5: Rượu cho tuần đình trong 3 đêm, mỗi đêm 1 mạch 30 văn.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước làng

Lệ làng về tang lễ, khuyến học và biếu đất

Điều 7: Lễ về tang lễ

     Ngày thành phục, nếu mổ bò thì chỉ cho mổ 1 con làm cỗ bàn để bày tế. Nếu mổ lợn thì mời ban lễ nhạc để hướng dẫn lễ nghi. Lễ dùng thịt dù là thịt bò hay lợn chỉ dùng 4 đĩa. Duy cỗ cho ban lễ thì có thêm 1 thủ bò hoặc thủ lợn, 6 đấu xôi; giáp Nhạc đặt 1 thủ lợn, 3 đấu xôi. Lễ cũ mỗi mâm 7 đĩa thịt cùng bánh tròn đều cấm chỉ.

Lệ làng về tang lễ, khuyến học và biếu đất

     Ngày đưa tang, tiền tế hay hậu tế chỉ dùng 1 chiếu hoặc 1 bàn lễ ở giữa đường đưa tang. Duy bản giáp 2 cỗ và ban nhạc hành lẽ cỗ bàn các khoản chiếu theo lễ của năm Thiệu Trị thứ 3 (1843). Duy đồ mạ vàng chỉ dùng4 đĩa trở xuống, nếu có bánh vuông, bánh tròn thì mỗi mâm 6 chiếc. Bánh vuông cứ mỗi đấu gạo làm 3 chiếc, bánh tròn mỗi kiện gạo làm 6 gộp (cặp). Nếu không có bánh chưng thì làm như cỗ thảo, bằng không có bánh cũng được.

     Phàm việc tang lễ nếu có mổ bò hoặc trước hoặc sau thì đặt ở bản giáp một khoanh cổ bò, 10 đấu xôi, 10 vò rượu, trầu cau theo như cũ. Nếu kiệm ước thì chỉ nộp bản giáp 1 con lợn giá 3 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, trầu cau theo như cũ. Việc làm cỗ bàn mời các hàng lễ điếu đều cấm.

Điều 8: Việc khuyến học và biếu đất

     Trong làng người nào đỗ tiến sĩ làng mừng 100 quan tiền và biếu 1 mẫu đất bãi; đỗ cử nhân mừng 60 quan tiền, biếu 6 sào đất bãi; đỗ tú tài mừng 20 quan, biếu 3 sào đất bãi.

     Còn như các hạng tạp lưu võ biền, quan tứ phẩm trở lên được biếu 6 sào đất bãi. Ai được bổ làm cai tổng hoặc được bổ dụng thí sai (viên chức chưa vào chính ngạch) đều được biếu 2 sào đất bãi. Còn như lý trưởng, phó lý thì cấp cho mỗi người 1 sào đất bãi để tỏ rõ sự ưu đãi riêng.

Điều 9: Lễ khao vọng

     Người nào dự trúng khoa trường phải làm lễ vọng 1 con lợn giá 3 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, đãi các hàng trong làng ăn uống ở đình.

     Người nào muốn vọng tư văn thì nộp 1 con lợn giá 3 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, 100 khẩu trầu cau đệ ờ văn chỉ kính lễ tiên hiền. Lễ xong, giáp đương cai thông báo mời toàn giáp lễ đến ăn uống.

Điều 10: Trong hội tư văn cứ chức y quan lễ nhạc sở tại đâu có thể xem nhẹ, người nào muốn vọng vào thì phải trình báo với quan trưởng tư văn cùng với quan khoa mục xem xét. Bản thôn chiếu thu tiền 100 quan dùng để chi cho các việc chung. Lễ vọng này chiếu theo khoa trường (mức đỗ); còn việc bày cỗ ở nhà để khoản đãi các hàng đều cấm. 


Lệ làng xã Thượng Cát về các lễ tiết, thờ cúng

    Hương lộ xã Thượng Cát huyện Từ Liêm, lập nămTự Đức thứ 7 Nguyên bản chữ Hán, ký hiệu A. 721, tại Thư viện Viện Nghiện cúw Hán Nôm.

    Hương lễ xã Thượng Cát

Lệ làng xã Thượng Cát về các lễ tiết, thờ cúng

    Làng có lệ cũng như nước có luật. Nước có luật là để giữ vẹn nước, làng có lễ để chỉnh đốn phong tục, nên không thể thiếu được. Từ khi có làng ta đến nay, các việc quan, hôn, tang, tế kính biếu chúc mừng hav có sự lạm vượt, tuy đã từng được sửa đổi nhưng giảm được cái này thì lại tăng cái kia, vẫn theo như cũ, trong đó chứa cả những cái tệ hại.

    Nay các kỳ mục trong làng cùng nhau sửa sang các điếu thường gặp. Từ đây trở đi chiếu theo khoán lễ, ai dám vi phạm sẽ bị phạt nặng. Điệa lệnày được trình bày ởdưới đây.

Điều 1: Việc thờ cúng thần các tiết

    Tư văn, kỳ lão, sắc mục, thôn trưởng chỉnh tề áo mũ để chuẩn bị tế ai sai sót bị phạt trầu rượu bằng tiền là 1 quan 2 mạch.

Điều 2: Ngày 16 tháng 3 nghênh thần

    Có lệ bàn giao đồ tế khí rước thân, các cựu thôn trưởng giao đồ tế khí cho tân thôn trưởng rước về phụng thờ. Thứ hạng làm đồ lễ: các lợn, xôi, rượu, trầu cau đều do đô trước đã chuẩn bị, ngoài ra mọi thứ đều cấm.

Điều 4: Tiết Thường tân (Cơm mới)

    Mua 1 con bò (hoặc trâu), cứ đúng ngày thì mổ dế tể, giáp trưởng chuẩn bị xôi, giết bò lợn làm cỗ mời mọi người ăn uống. Sáng sớm ngày chính nhật, các gia đình cáo tố trước, hát kính khoản nào đều bị cấm. Sau nghi tiết thờ thần, các gia đình bắt đầu  có thể được cáo lễ gia tiên.

Điu 5: Tiết Thượng điền

    Lễ dùng 2 con gà, giá mỗi con là 1 quan 2 mạch, 2 mâm xôi, mỗi mâm 10 đấu, 2 bình rượu, mỗi bình giá 200 mạch, trầu đủ dùng. Cỗ bàn khoản đãi ở nhà đều cấm,

Điều 6: Lễ giá thú (lấy vợ lấy chồng)

    Khi 2 gia đình xin ngày cưới, lý trưởng, thôn trưởng họp tại đình chiếu lễ lan nhai, thu tiền cheo là 1 quan 1 mạch 48 văn, l con gà gia tiên 1 quan 2 mạch, 1 mâm xôi 3 đấu, 1 bình rượu giá 1 mạch 30 văn, trầu cau đủ dùng, lại còn tiền nộp cho bản giáp 3 quan, 30 khẩu trầu; tiền cho bản phiên, bản xóm mỗi khoản là 3 mạch, 30 khẩu trầu. Đến như sính lễ, nhà gái chỉ đòi lấy 1 con lợn trị giá 10 quan tiền, 10 đấu xôi, 1 vò rượu, trầu cau đủ dùng. Duy nội tộc và láng giềng thân thuộc họp ăn uống không được mời các hàng. Nếu nhà trai túng thiếu thì chỉ lấy tiền là 15 quan trở xuống, trầu cau đủ dùng. Đến lễ vu quy, chiểu theo ngũ phục nội tộc và láng giềng thân thuộc tuỳ nghi làm cỗ, các hàng tạp khác đều cấm chỉ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: làng là gì

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Quy định về việc hành văn, lễ thuế đối với dân làng

Điều 14: Bản xã giao 5 sào ruộng cho thú từ nhận cày cấy để lo việc đèn nhang. Ngày lễ nhập tịch, ban đêm làm lễ yết y như chủ tế, các lễ vật để kính biếu giống lễ cũ.

Quy định về việc hành văn, lễ thuế đối với dân làng

Điều 15: Việc hành văn

     Phàm các việc trong đình đều có văn tế và được biếu 1 mâm, còn như việc tế xuân, tế thu và việc hiếu hỷ ở các gia đình thì biếu 1 phần như lễ cũ.

Điều 16: Đương thứ lý trưởng, xã tuần phàm có việc tại đình thì việc biếu theo như lễ cũ.

Điều 17: Lễ ngày cúng mâm cỗ chay hàng năm gồm 6 mâm. Tế xong trừ lễ của các quan viên, hội tư văn công là 3 mâm, giáp vũ 1 mâm, đương cai 1 mâm, còn 1 mâm chia đều cho mọi người cùng thụ phúc theo lễ cũ.

Điều 18: Hễ nhà riêng nào có việc hiếu hỷ tham dự có văn tế, vin vũ thuộc đều được tế.

Điều 19: Sĩ tử đang theo học, xác minh có thực thì việc phiên phu, lao việc đều được miễn. Nếu thi đỗ nhất nhị trường thì cho vọng quan viên, được yết lễ khao. Lễ khao y như các ông khao thọ, được nhiêu miễn.

Điều 20: Chọn binh luân lưu các tộc, cứ nhiều đinh cường tráng thì chọn lấy 1 làm binh, cấp cho 2 mẫu ruộng làm lương thực ăn hàng tháng. Hạn trong 10 năm, ai mãn khoá thì được ngồi uống rượu cùng các quan viên, ai chưa mãn khoá thì trả trở lại. Người nào đã mãn khoá mà lại tình nguyện trở lại quân ngũ một khoá nữa sẽ cho 5 quan tiền, 1 suất nhiều lễ biếu quanh năm theo lễ cũ.

Điều 21: Lễ thuế.

     Thóc Ma quy điền (hạng 3) giao về các đinh phân nhận, tiền đắp để để nước thì người nhận ruộng ấy chịu. Còn như tiền sưu thì chiếu bổ mỗi lá quan, mỗi đinh 2 quan.

Điu 22: Lý trưởng hạn 2 năm 4 vụ là 1 khoá. Việc thuế lễ cùng các ổxkì của – giáp thu nạp. Người mãn khoá được miễn tiền trụ, nếu không làn hét khoá thì lấy tiền trụ 120 quan, số tiền ấy để ăn uống khi có lộ khao. Khi có lễ khao thì lễ biếu vẫn như cũ.

Điều 23: Hương trưởng lấy tiền trụ, lễ khao, lễ biếu giống như trưởng cũ.

Điều 24: Dần đinh làm xã tuần 3 năm thì được miễn phiên phu 6 năm, thì được miễn việc ăn uống theo với hạng lão.

Điu 25: Dân đinh và hoàng đinh nhập vọng tư văn phải sắm gạo nếp, gạo tẻ mỗi mâm 1 đấu, 1 con lợn, trầu rượu tuỳ, tiền 50 quan, để quan đem về, 4 giáp biếu 3 quan, biếu các quan viên, chủ tế, thổ từ.

Điều 26: Dân đinh vọng nhập giáp vũ lấy 15 quan tiền, 20 đấu gạo nếp, 10 đấu gạo tẻ. 1 con lợn, lấy 1 quan 4 mạch về, 4 giáp 1 quan 6 mạch biếu cac quan viên, còn bao nhiêu dùng cho việc công.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn hóa làng

Quy định về khen thưởng với những người làm rạng danh làng xã

     Từng nghe: Từ xưa đã muốn phong tục ấp ta được thuần hậu chất phác, nhưng những điều khoán ước lại chưa quy định được. Thế e rằng sẽ không động viên, răn đe được mọi người. Cho đến nay những điều đó đã có tổn ích tuỳ nghi mà phong tục ngày càng đổi mới, nên sẽ kê khai ra để lưu truyển mãi mãi. Xin liệt kẽ các điều như sau:

Quy định về khen thưởng với những người làm rạng danh làng xã

Điều 1: Các vị chức sắc hương lý hễ ai đến 70 tuổi trở lên thì các vị chức sắc hương dịch ấy sẽ ngồi riêng một hàng.

Điều 2: Hạng lão hễ ai đến tuổi 70 trở lên thì cùng ngồi 1 hàng riêng với lão hạng dân đinh.

Điều 3: Biền binh hễ viên nào đến 70 tuổi trở lên thì ngồi riêng một hàng.

Điều 4: Lễ chúc thọ các sắc mục, các biền binh thọ 70 tuổi trở lên dùng 1 bức trướng màu trắng, 1 buồng cau; Chúc thọ hạng lão dùng 1 đôi câu đối trên vải trắng, 1 buồng cau.

Điều 5: Ông được chúc thọ yết lễ bày thành 3 bàn, mỗi bàn 6 đấu, trà, quả tùy ý, toàn dân cùng vui vẻ. Lễ khao việc ăn uống tuỳ nghi. Phàm dự trong đình có văn tế, mọi người trong ba hàng đều được biếu mỗi ông 1 phần như phần những người ngồi.

Điều 6: Người đồ tú tài chúc mừng 1 bức trướng, biếu 5 sào ruộng. Người kế khoa được mừng bức trướng, biếu 2 sào rưỡi ruộng.

Điu 7: Trúng cử nhân tiến sĩ mừng trướng dùng vải gấm đỏ, biếu 5 sào ruộng.

Điều 8: Trúng võ cử, suất đội bổ thu trở lên, những người có phẩm hàm và chánh phó tổng bổ thu đều được mừng 1 bức trướng.

Điều 9: Cử nhân, tiến sĩ phàm đã dự trong đình có văn tế đều được biếu 1 bàn hoặc giết bò lợn được biếu nửa cái thủ.

Điều 10: Tú tài và võ cử cho đến suất đội bổ thụ trở lên, người nào có phẩm hàm, trong đình có văn tế đều được biếu 1 bàn, hoặc giết trâu, bò, lợn biếu một nửa nong.

Điều 11: Chính ngạch chánh phó tổng đương thứ một đôi câu đối bằng vải trắng. Biếu các tiết giống như cũ, như người được bổ thụ biếu giống như tú tài.

Điều 12: Phàm các vị có khoa mục, chức sắc mới được làm thủ chỉ, chủ tế, hành văn để tỏ sự trọng dụng.

Điều 13: Thủ chỉ, chủ tế lễ ngày nhập tịch, đem yết lẻ 12 đấu gạo nếp, 2 con gà, 4 bát chè, rượu, hoa quả tuỳ nghi. Lễ tế có thịt lợn, tế xong thịt lợn lại biếu như lễ biếu các lễ trong năm, cồn lại tư gia dùng. Các vị hương lý khao lễ được biếu 1 bàn y như các vị bàn ngồi.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lang van hoa cac dan toc

Khoán ước về quy định công việc, điều lệ của Làng

     Điu 7: Hàng năm vào các tiết lễ lớn, bản thôn sắm sửa lễ vật hoặchồ lợn giao cho đương cai mổ thịt làm lễ, cốt trọng thanh khiết. Ba mâm cỗ đặt ở trong đình, kiểm tra lễ vật thực sự tinh sạch mới được phép dâng lên hai miếu tế lễ. Nếu đương cai mổ thịt không cẩn thận, bản thôn bắt nộp 5 quan tiền kẽm, trừng phạt vì tội cẩu thả. Nếu ba mâm đồtế mà kiểm tra thấy sơ sài thì người đó sẽ bị đuổi thành dân ngoại cư. Lễ vật lo không chu đáo, tinh sạch cùng bất nộp phạt 3 quan tiển kẽm, 300 khẩu trẩu để lo nghiêm lòng thành cẩn trong việc tế lễ.

Khoán ước về quy định công việc, điều lệ của Làng

     Điều 8: Trong các lễ lớn thờ thần, việc bày đổ tế khí trong đình phải chọn lấy những người thuộc bàn 5 và bàn 6. Đến ngày lễ, người ngồi bàn đó có mặt tại đình cùng ba bàn dự tế cắt đặt việc bày biện đồ tế. Nếu ngoài nào trong bàn ấy mà lơ là không tuân theo, giao cho lý trưởng, trưởng báo tuần phủ vào nhà bắt đưa ra đình. Cũng giống như dần, bị đánh 30 roi để răn đe. Ngươi nào có việc hoặc vừa mới đi xa có thể cho phép nhờ anh em ngươi thân tới đình làm việc thay.

     Điều 9: Trong thôn có một ngôi điếm, bầu ra một trương tuần, mỗi đem chọn 5 trai tráng đến canh gác điếm sở (mỗi đợt canh là 6 đêm). Tối đến, lý trưởng, hương trưởng qua đó kiểm tra quân số tuần phu giao cho trương tuần cắt đặt canh phòng điếm sở và các nơi khắp thôn cùng ngõ hẻm. Thời gian từ 6 giờ chiều, qua đêm đến 5 giờ sáng hôm sau, mới được về nhà. Nếu nửa đêm bỏ dở công việc về nhà, canh phòng lơ là bất cẩn, gặp phải quan đồn và binh lính huyện hạt đi tuần, hoặc trong thôn xảy ra vụ việc gì, thì số tiền phạt và bồi thường, trương tuần và các tuần phu hôm đó phái chịu.

     Điều 10: Bản thôn rất coi trọng việc trên hoà dưới thuận. Nếu người bế trên làng mạ kẻ dưới, kẻ dưới không tôn trọng người trên mà kiểm tra thấy đúng sự thật thì kẻ dưới sẽ bị đánh 20 roi để răn đe, người trên sẽ chịu phạt 1 quan tiền kẽm, 50 khẩu trầu để giữ nghiêm lễ làng.

     Điều 11: Trong thôn, thẳng hoặc có vụ tranh chấp gì, tất phải được lý trưởng, hương trưởng phân xử rõ ràng. Nếu đương sự khinh thường không chịu phục tùng lại đi kêu tới quan địa phương, quan địa phương tìm hiểu nguyên do ngọn ngành cũng đúng như hương trưởng, lý trưởng đã phân xử thì người sai sẽ phải nộp tiền phí tổn và bị bản thôn tước bỏ vị thứ trong làng để tránh tổn hại đến phong tục.

     Điều 12: Người trong thôn nếu như lấy cắp bất cứ vật gì ở trong thôn hoặc thôn khác, mà bị bắt đích danh thì bị đánh 30 roi để răn đe. Nếu có hành vi đục tường khoét vách lấy trộm đồ đạc, lập tức bị tróc nã và xoá bỏ tên trong sổ bạ của làng. Người nào che giấu kẻ gian, vật gian mà bị bắt đích danh thì bản thôn đem kẻ che giấu cùng kẻ gian và tang vật giao cho quan địa phương trị tội để xoá bỏ nạn trộm cắp.

     Ngày 10 tháng 2 năm Thành Thái 19 (1907) lập khoán ước.


6 điều đầu tiên trong khoán ước Thôn Thổ Quan

     Thôn Thổ Quan tổng Vĩnh An huyện Hoàn Long, nay thuộc phường ô Chợ Dừa quận Đống Đa. Tại thôn có bản khoán ước lập năm Thành Thái 19 (1907), văn bản viết bằng chữ Hán, hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AF. a2/31.

6 điều đầu tiên trong khoán ước Thôn Thổ Quan

     Kỳ mục, lý dịch và toàn thôn Thổ Quan tổng Vĩnh An huyện Hoàn Long lộp khoán ước. Bởi lẽ vâng thừa quý toà sức thúc giục dân thôn kỳ mục đến toà nghe hầu công vụ, thừa truyền tu soạn khoán ước của dân thôn xem có sự cải biên thế nào, hạn định sau 8 ngày đệ lên toà để trình thẩm xét. Vâng thừa dụ lệnh, dân thôn hội họp tham chước lễ cũ các ngạch tuỳ nghi mà thêm bớt kê rõ ra sau đây. Tất cả liên danh ký kết, nay lập tờ khoán ước.

Điều 1: Đất thờ của thôn gồm 3 sào, miếu thờ 3 vị Thượng đẳng phúc Thần ở dưới Thổ Tinh, tại phường Thịnh Hào tổng Yên Hạ, phía sau có một ao nhỏ.

Điều 2: Hàng năm có hai ngày lễ lớn cúng thần. Lề vật gồm lợn cả con hoặc bò, dê. Lễ xong, biếu những bậc từ tú tài bên văn, cử nhân bên võ trở lên 1 khoanh thịt cổ; biếu bàn lão và các viên đương cai, phó tổng, khoá sinh, dịch mục 1 khúc thịt (nạm); biếu các vị đương thứ lý, hương trưởng, tả văn, thủ bạ mỗi người được 1 đùi lợn.

Điều 3: Lễ hàng năm, ai đến tuổi 50, sắm sửa 2 thủ lợn, 2 mâm xôi, 2 vò rượu cùng 20 quả cau trầu hành lễ ở hai miếu theo đúng như lễ. Tháng hoặc có người đến tuổi 50, muốn giản tiện hơn, xin nộp 40 quan tiền, 2 bình rượu, 200 khẩu trầu, hành lễ tại 2 miếu theo đúng như lễ. Sau đó đi chia biếu lễ.

Điều 4: Trong thôn có người hiện tại đang theo kỳ khảo hạch thì được miễn trừ tạp dịch. Người nào vốn theo nghiệp học cũng được xét theo lễ này.

Điểu 5: Bản thôn có đám đất ao công 1 mẫu 5 sảo ghi trong y bạ Trong thôn người nào làm lý trưởng nhận phần đất ao đó canh tác hẳn 6 năm một kỳ. Thời gian làm việc không phạm sai sót mà sau đó lại xin thôi việc thì có thể xét miễn tạp dịch cả đời. Người nào có khả năng được tái bổ khoá nữa thì được ban cho chức nhiêu cả đời. Nếu làm thất thoát sưu thuế sẽ truy cứu bắt họ tộc phải bồi thường.

Điều 6: Con gái lấy chồng người bản thôn, theo lễ nộp tiền lan giai (nộp cheo) 12 viên gạch Bát Tràng, 1 bình rượu, 200 khẩu trầu. Nếu lấy chồng người ngoài thôn thì nộp cheo 24 viên gạch Bát Tràng, 1 bình ruơu. 100 khẩu trầu cau. Còn lấy chồng người nước ngoài, nộp tiền cheo gấp đôi là 48 viên gạch Bát Tràng, tiền trầu, rượu là 1 quan 2 mạch tiền kẽm.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lang viet nam

Quy định về việc khao thưởng của người dân

     Điều 21: Trong xã các sĩ tử sơ thí bản xã quy định tiển tiễn là 5 quan. Người thí trúng tú tài lý dịch sẽ sắm một đôi câu đối bằng lụa đỏ, 10 quan tiền, 1 buồng cau toàn xã đến chúc mừng. Người thi trúng cử nhân, lý dịch sẽ sắm 1 bức thơ bằng vải lụa đỏ, 20 quan tiền, 1 buồng cau, toàn xã cùng đến chúc mừng. Người nào đỗ phó bảng, tiến sĩ, hoàng giáp thì lý dịch sẽ sắm 1 bức trướng bằng vải gấm đỏ, 30 quan tiền và 1 buồng cau, toàn xã cùng đến chúc mừng để tỏ rõ sự trọng văn học.

Quy định về việc khao thưởng của người dân

Nay đặt lễ.

     Điều 22: Lễ khao làm trưởng giáp Văn: Khi nhập hạ sắm một buồng cau giá 1 quan, người nào ca hát được mừng 3 quan; Sau khi trăm tuổi sắm các khoản làm lễ hành điếu gồm: 6 quan tiền cổ đem đến nhà viên trưởng ấy rồi hội tư văn làm lễ, làm xong việc thì mọi người sẽ uống rượu ăn uống tùy nghi, không bắt buộc theo lễ này.

Nay đặt lễ.

     Điều 23: Người nào nhận tiền của văn giáp thì một năm phải sinh lợi tức mỗi quan 3 mạch, chia đều cho 2 lễ tế. Nếu ai không bỏ tiền lợi tức ra thì Văn giáp sẽ phạt để giữ nghiêm phong tục.

     Điều 24: Bản giáp mói bàn bạc quyết định: Ruộng công cứ mỗi sào cả nâm phải xuất tiền 4 quan, lễ thuế ở ruộng ấy thì người cày ruộng phải chịu.

Nay đạt lễ.

     Điều 25: Số tiền công mới bàn bạc quyết định: Cứ 10 quan thì lấy ra 10 đấu, mỗi đấu 3 bát.

     Ngày tháng 2 năm Duy Tân thứ 7 (1913) mới bàn bạc quyết định ruộng công của bản giáp cộng các thửa gồm 9 sào 12 thước giao cho tiênchỉ canh tác, tiền thuế thì toàn dân cùng chịu. Cả năm nuôi 2 con lợn, lấysố cân làm chuẩn, nếu ai nuôi thiếu thì mỗi lượng thu tiền là 1 quan 5 mạch, ai nuôi hơn lên thừa sẽ trả về cho chủ.

Nay đặt lễ.

Tiên chỉ Khuất Tiến Điện ký

Lý trưởng Khuất Đắc Tụng.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: huong uoc la gi

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Điều lệ sử dụng ruộng, ao được quy định

Điều 18:

     Giáp Nhạc kính tế xuân thu tiền vốn có 40 quan, cả năm sinh lợi tức mỗi quan 3 mạch, số tiền tức ấy chia đều làm 2 vụ sắm lễ đán 1 mẫu 2 sào tại xứ Đồng Cháu, 1 sào rưỡi ở xứ Đồng Mi, 1 sào rưỡi ờ xứ Đồng Miếu, 3 sào ở Đồng Ruộng, 3 thửa 3 sào ở xứ Đồng Côn. 1 sào rưỡi đào ao, 1 sào rưỡi lấy xôi cả năm 160 bát, cơm 40 nồi, tiền tức chia đều 2 lễ tế trong nămấy viên thủ ban sắm lễ, tế xong thủ lợn một nửa biếu điển văn một nửa biếu trưởng, lòng lợn và 3 miếng thịt biếu tư vần, văn chức 2 phần, còn các lễ vật chia đều cho giáp Nhạc.

Điều lệ sử dụng ruộng, ao được quy định

Điều 19:

     Ruộng hậu do hương trưởng canh tác lấy 160 bát gạo, 3 quan 2 mạch tiền chia đều cho từng giỗ; xôi 80 bát tiền 1 quan 6 mạch, cơm 14 nồi, rượu 1 vò, cau vừa 10 quả, cả hội làn lượt chia nhau mua sắm. Sỗ ruộng hậu cứ theo xã trưởng đã nhận canh tác, tiền thuế ở làng chi. Xồi so bát, tiền 1 quan 6 mạch, rượu 1 vò, cau vừa 6 quả, trong năm ấy giao cho xã trưởng mua lo giỗ. Nay giao ước. Còn việc kính giỗ tại bát lão hương trưởng xã khán chức dịch và trưởng gia thì cứ căn cứ vào số có mặt. không được tranh cãi om sòm.

Nay giao ước.

Điều 20:

     Một ao côngở trong phía đông giáp tên là Trình, phía tây giáp đường nhỏ, ao này thả cá, giá cả năm là 3 quan, không được lấy quá cao giá; ao cá này chỉ để dùng vào các tiết lễ thờ thần trong năm, không được dùng việc khác. Còn 2 cái ao liền đó, phía đông giáp đê, phía tây giáp hàng rào, ao thả cá, cả nămgiá 3 quan, để dùng vào việc công, các tiết lễ; nếu người nào ngày hoặc đêm tự tiện đánh bắt cá, nguyện chư vị thần linh chứng giám.

     Các tiết lễ trên đây từ nay về sau cứ y theo các điều này, để lại cho muôn đời sau hoặc có thể tùy thời mà thay đổi sửa chữa đi, không cứ phải dựa theo các điều giao ước trong bia.

     Nguyện có đại vương chứng giám.

     Ngày tốt tháng 10 năm Nhâm Ngọ hiệu Minh Mệnh 3 (1882)

     Ngày mồng 1 tháng 9 năm Đồng Khánh 3 (1889), giáp Văn xã Sơn Vi đã hội họp tại đình làng chiếu theo sổ cũ trùng tu lại các điều tục lễ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước làng

Điều lưu ý trong lễ tiết trong dân tộc và hội văn giáp

     Điều 15: Hàng năm ngày 1 tháng 10, bản xã cắt cứ các chức dịch chiếu thứ tự trong sổ hương đảng cứ 1 năm 1 kỳ, theo thứ tự đến lượt chức dịch mà nhà nghèo quá không kham nổi thì cho theo lễ nạp tiền 1 quan 8 mạch giao cho hội thứ thu nhận, không được tiêu bừa bãi. Hoặc ai đến lượt mà có ruộng đất nhà cửa thì bản xã cắt làm chức dịch cùng với xã trưởng lo liệu việc quan đối thúc thu thuế công. Còn việc binh phận, tô dụng thì bản xã lo. Nếu viên chức dịch nào mà cứ tự ý mình thiếu vắng, bản xã sẽ truất xuống 2 bàn và cho các viên chức dịch năm đó được hưởng 2 quan tiền, số tiền đó đem sung vào hương ẩm. Nếu như người nào đó đã miễn chức dịch rồi thì cho ngồi hàng dưới với dân và phải trả lại số nợ cho dân.

Điều lưu ý trong lễ tiết trong dân tộc và hội văn giáp

Nay giao ước.

     Điều 16: Lễ các tiết trong dân tộc, có kính tế các viên điển văn. Căn cứ vào trưởng văn giáp, vị nào đỗ đạt thì cho làm điển văn sỏ tại.

     Điều 17: Hội văn giáp trong 2 kỳ tế lễ xuân thu phải sắm lễ vật kính tế. Còn giáp văn chỉ có tiền vốn là 80 quan, cả năm sinh lợi tức mỗi quan 3 mạch cộng là 24 quan, chia đều 2 vụ mỗi vụ kính tế cổ tiền 12 quan. Việc sắm lễ này cứ mỗi năm mỗi mâm 4 người, chiếu thu theo số tiền tức ấy đem sắm lễ, đúng theo giá tiền mua, nếu ai mua ít mà tính nhiều thì xin thần linh chứng giám, không cho được hưởng ân trạch thi thư. Kính tế xong, thủ lợn 1 nửa biếu điển văn, một nửa biếu ông trưởng, nọng lợn một nửa biếu hiến tế, bồi tế và viên chuyên đông xướng tây xướng, một nửa biếu các viên hành lễ để giữ nghiêm thứ tự. Hễ dự nhập tư văn thì mọi người đều có đơn và người bảo lãnh, cứ tuần tự mà ngồi không được hỗn độn. Hoặc nếu như có người nào ứng vụ cho xã đã vượt qua 1 khóa thì cho vào, như giáp trường giáp tư văn chỉ dùng 4 viên, đặt biêu 2 viên một mâm cỗ, giáp tư văn được 2 phần tại bàn. Chức giáp trưởng giáp tư văn thì cứ căn cứ vào người có chân khoa mục và những viên xã trưởng ứng vụ mục hạn hoặc những người có chức sắc thì cho làm. Ruộng của văn giáp cho cấy thuê lấy mỗi sào 40 bát gạo nếp loại tốt. Người nào có thường xin gia nhập hội tư văn thì tiền khao vọng là 1 quan 2 mạch, trầu cau 100 miếng, lại sắm sửa cơm rượu kính biếu hội tư văn. Hơn nữa văn chỉ là nơi tôn nghiêm nếu tham dự vào hội tư văn mà nói năng bừa bãi khoác lác thì phạt 1quan tiền cổ. Ai nấy cho dù là thô sơ không tuân theo quy ước của hội tư văn xin thánh hiền chứng giám.


Quy định về các lễ cúng

Điều 7: Ngày 25 tháng 7 lẽ Thượng điển, tế xong, thủ lợn, nọng lợn và 3 đấu xôi biếu theo lễ, số lễ vật còn lại chia đều làm 5 phần, tư văn 1 phần cùng đãi các tiết, còn 4 phần cả làng cùng ăn uống.

Quy định về các lễ cúng

Điều 8: Ngày 15 tháng 8 sắm sửa lễ vật, tế xong thủ lợn, nọng lợn, 3 miếng thịt và 2 đấu xôi biếu theo lễ, còn các lễ vật khác chia đều 6 phần, tư văn 1 phần, tiếp đãi các tiết 1 phần, còn 4 phần cả làng cùng ăn uống.

Điều 9: Lễ xôi mới, cơm mới sắm lễ lợn giá 1 quan 8 mạch tiền cổ, không được để thừa tiền. Tế xong thủ lợn, nọng lợn và thịt biếu theo lễ, còn để lại cho tư văn.

Điều 10: Lễ xôi mới sắm sửa lễ vật hoặc trâu bò, tế xong thủ lợn và nọng lợn biếu theo lễ. Số lễ vật còn lại chia đều làm 5 phần, tư văn 1 phần cùng đãi các tiết, còn 4 phần để lại 4 giáp cùng ăn uống.

Điều 11: Lễ tiết kính đán mỗi gia đình mỗi suất đóng 30 văn trong năm ấy các viên chức dịch thu số tiền đó để sắm lễ, lễ xong thủ lợn, nọng lợn biếu theo lễ, số còn lại chia đều cho mọi người cùng uống rượu, căn cứ vào số ngườicó mặt, người vắng mặt thì thôi.

Mâm cỗ chay tại xã, mới nhận lễ tại xứ Đồng Ôn được một phần, còn 1 phần xôi mật đậu giá 4 mạch tiền, cũng trong năm đó các chức dịch nhận lấy để lo đèn nhang như 3 ngày tết Nguyên đán, nếu các chức dịch sắm lễ mà bị thiếu thì sẽ phạt người nhận tùy liệu nặng nhẹ.

Điều 12: Lễ chầu y khai hạ và 2 tiết giỗ ở đình, lễ xong các vị trong hội tư văn uống rượu, các vị chức dịch ai có mặt thì ăn, ai vắng mặt thì thôi.

Nay giao ước.

Điều 13: Ngày mồng 5 tháng giêng năm tới lễ kính tại điện, lễ xong thủ lợn biếu các viên mục, nọng lợn biếu viên viết sớ, còn lại chia đều 4 giáp cùng ăn, còn như mâm bát mới, nồi niêu thì bản điện nhận lấy.

Nay giao ước.

Điều 14: Việc tiễn đưa người chết, tục lễ có nhiều phiền phức, làng phí. Nay toàn xã cùng bàn bạc hễ trong làng nhà ai có việc tang ma, là con người không có gì lớn hơn việc hiếu lễ, nếu trong nhà nghèo khó hoặc nếu nhà nào mà có lợn gà, làm bao nhiêu mâm, nhiều ít bản xã cũng nhận, không trách móc gì. Hễ có 1 con lợn thì chia đều mời mọi người uống rượu, nếu không có được một con thì cũng mời mọi người uống rượu không được yêu sách gì. Nếu con cháu giàu có, có hằng sản hằng tâm thì cũng không hạn chế. Nếu nhà nào mời viên đô tùy đến thì bản xã sẽ tự đi và gia chủ đi đón đến làm lễ theo lễ, tiền là 1 quan 2 mạch, còn tiền nộp phạt thêm bao nhiêu tùy nhà hiếu lo.

Nay giao ước.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: làng là gì

Lễ thức trong tang ma của người dân Việt Nam

     Lễ thức trong tang ma được coi là lễ thức quan trọng bậc nhất để đưa ông bà, cha mẹ vừa mất về gặp tổ tiên và gia nhập vào hàng các vị tổ tiên (những người mới chết được lập bàn thờ riêng, cho tới khi giỗ hết, cải táng sạch sẽ, mới được ghép thờ chung với tổ tiên). Sách Thọ Mai gia lễ đã ghi chép khá chi tiết các quy định của lễ tang. Rất nhiều thứ lễ được quy định trong đám tang: lễ phục hồn, phạn hàm, thành phục, thiên cữu, yết tổ, khiển điện. Sau khi chôn cất, còn các lễ thành phần, phản khốc, sơ ngu, mở cửa mả (sau ba ngày), lễ 49 (hoặc 50) ngày, lễ 100 ngày. Qui định tang phục của con cháu, nghi thức lễ… đều nhằm mục đích biểu lộ đạo hiếu sâu sắc của con người.

Lễ thức trong tang ma của người dân Việt Nam

     Sau lễ tang ma, lễ giỗ là nghi thức rất được chú trọng. Ngay trong truyện cố tích Tấm Cám quen thuộc với người Việt Nam cũng thấy chi tiết, cô Tấm sau khi đã được làm hoàng hậu, ngày giỗ cha vẫn phải về nhà dự lễ. Trong tâm lý người Việt, ta thấy cả nỗi lo lắng về sự “mất giỗ”.

Có con mà gả chồng xa

Trước là mất giỗ, sau là mất con

     Ngày giỗ (kỵ nhật) là ngày kỷ niệm ngày mất của người thân trong gia đình hàng năm. Trong các lễ giỗ, có ba ngày chú ý nhất: tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ hết), trừ phục (lễ cởi bỏ đồ tang). Các ngày giỗ thường kỳ trong các năm sau được coi là cắt kỵ {giỗ lành).

     Trước lễ Tiểu tường, nhiều gia đình còn làm lễ Tiên tường (cáo giỗ) nhằm xin phép Thổ công để linh hồn người đã mất trở về gia đình nhận giỗ. Đồ lễ cúng trong giỗ đầu và giỗ hết phải chuẩn bị rất chu đáo. Trong cỗ cúng, cũng như đã cúng suốt 49 ngày sau khi người thân mất, bao giờ cũng phải có bát cơm úp và một quả trứng luộc. Cách giải thích hiện tượng này có khác nhau: bát cơm úp thể hiện lòng hiếu thảo đầy đặn của con cháu, và quả trứng (sẽ là con gà) là dấu tích thờ mặt trời hoặc quan niệm quả trứng là dấu hiệu cầu mong sự hồi sinh, trứng là cội nguồn. Cũng có người giải thích, bát cơm úp và đôi đũa bông là biểu tượng của âm dương để tạo nên những sự sống mới… vào ngày giỗ, nhiều gia đình làm cỗ cúng rất to, mổ lợn, giết bò linh đình, khá tốn kém. Ngay trong dân gian xưa đã có sự chê trách việc này:

Sống thì chả cho ăn nào

Chết thì cúng giỗ mâm cao cỗ đầy

     Có một số nguyên nhân của việc làm giỗ to: trước hết gia chủ mời tổ tiên và người thân mới mất về hưởng lễ, mặt khác là để tiếp đãi khách khứa. Trong số này có cả những người thân tộc vốn là con thứ, cháu thứ, cháu ngoại đến gửi giỗ (họ thường mang đồ lễ, gạo và tiền đến như hình thức góp giỗ) và cả bạn bè, xóm giềng của gia chủ. Đây cũng là hình thức cám ơn những người đả giúp đỡ gia đình trong những ngày tang lễ mà do bận rộn không đón tiếp được chu đáo (đó là chưa kể tới khía cạnh nợ miệng” ở làng quê). Theo quy định xưa, vào ngày giỗ đầu, trang phục tang lễ mũ gậy, áo xô lại được con cháu mang ra mặc. Khách đến vái lễ trước bàn thờ, gia chủ cũng phải vái lễ như trong những ngày tang (khách vái hai lạy, chủ vái trả một lạy, khách vái bốn lạy, chủ vái trả hai lạy…). Khi khách đã văn, tổ tiên đã hưởng lễ, gia chủ làm lễ và hóa vàng. Đồ mã được gửi cho người chết cũng theo quy định: ở lễ Tiểu tường đó là “mã biếu”vì người chết phải sử dụng để biếu các ác thần mong tránh sự quấy nhiễu (dân gian quan niệm cõi âm như cõi trần), ở lễ Đại tường và lễ Trừ phục (một ngày tốt được chọn sau lễ Đại tường để đốt bỏ tang phục) đồ mã còn cần nhiều hom: mọi vật dụng sinh hoạt cho người chết (quần áo, giày dép, xe cộ), thậm chí cả các hình nhân bằng giấy để xuống cõi âm phục vụ cho họ. Sau khi hóa (đốt) những đồ mã này, đổ một chén rượu lên đống tàn vàng để vật mã trở thành vật thật, tiền thật dưới cõi âm. Người ta còn hơ một chiếc đòn gánh, gậy trên ngọn lửa hóa vàng, hoặc dựng một cây mía bên cạnh với lời giải thích “để các cụ gánh vác về”. Tâm thức dân gian thật bình dị và giàu tính thực tiễn!

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lang van hoa cac dan toc

Sáu điều ghi phong tục của dân

       Phàm phong tục trong làng từ trước đến nay đã ăn sâu vào gốc rễ, há không phải là công lao tích lũy sao! Nay vì muốn cho trong xã được trên thuận dưới hòa, lại tăng thêm chỉnh đốn phong tục cho dân. Các điều lễ được khắc vào đá, để cho tiếng tăm bất hủ, để lại cho muôn đời chiêm ngưỡng, những điếu giao ước như đại lễ, không bao giờ thay đổi. Các điều ghi phong tục của dân được liệt kê dưới đây:

Sáu điều ghi phong tục của dân

Điều 1: Lễ lễ cầu phúc tháng 2 hàng năm, sửa các lễ vật quý giá, sạch sẽ như thịt trâu. Tế xong 3 miếng thịt và 3 đấu xôi biếu những người làm lễ ăn uống. Một nửa thủ lợn biếu điền ván, còn một nửa biếu các vị hội tư văn và hiền tế, sắp riêng một phần gồm 1 nửa chiếc nọng lợn biếu người hành lễ, còn một nửa biếu xã. Các lễ vật còn lại chia đều làm 3 phần, một phần chia cho giáp theo lễ, còn 2 phần để đãi các tiết, còn đế lại tại đình các viên mục trong xã ăn uống.

Điều 2: Lễ xướng ca, sơ khảo tại phía đông nam, phúc khảo tại phía tây bắc. Các nơi sắm sửa lễ vật, còn một nửa biếu tư văn,  lợn và 5 miếng thịt cũng biếu tư văn, lại biếu đồ giá 3 miếng thịt. Số lễ vật còn lại giúp bày biện, căn cứ vào số người trong hội tư văn có mặt cứ 4 người một cỗ, những người vắng mặt thì thôi, còn lại nữa thì 2 giáp ấỵ nhận lại cứ 4 người một cỗ. Giáp nào có lễ riêng thì kính lễ xong cũng biếu theo như lệ. Sư khảo và phúc khảo không được vắng mặt; Còn như trò lạc thành thì do hội tư văn, lễ vật do thủ bàn sắm sửa, lễ xong biếu điển văn một nửa thủ lợn, còn một nửa biếu trưởng văn giáp, nọng lợn biếu viên hành lễ để tỏ ra lục lễ tốt.

Nay đặt lễ.

Điều 3; Mãn tịch sắm lễ lợn giá 1 quan 8 mạch, không được để thừa tién. Tế xong thủ lợn và nọng lợn biếu theo lễ, còn lễ vật khác để lại cho lư văn.

Nay giao ước.

Đỉều 4: Lễ khao vọng. Sắm các lễ vật tế xong thủ lợn và nong lợn biếu theo lễ. Số còn lại biếu văn lễ 1 phần, các vị có chức sắc và từ quan biếu riêng mỗi người 1 phần.

Nay giao ước.

Điều 5: Lễ cầu an, sắm sửa lễ vật kính tế xong thủ lợn và nong lợn biếu theo như lễ và tiếp đãi các tiết, còn lại chia đều cho 4 giáp.

Nay giao ước.

Điều 6: Ngày 15 tháng 5 sắm lễ hoặc trâu bò, kính tế xong thì thủ lợn, nọng lợn, 3 đấu xôi biếu theo lộ hoặc thịt bò thì biếu cái nọng, các lễ vật còn lại chia đều làm 5 phần, tư văn 1 phần, còn đãi các tiết, còn nữa thì 4 giáp cùng ăn uống.

Nay giao ước.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: văn hóa làng

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Lễ việc hỷ, việc hiếu và việc cấp tiền giúp nhau

 Điếu 5: Lễ việc hỷ.

     Phàm nhà nào có con gái đến tuổi gả chồng thì nhà giai chỉ có 1 buồng cau hoặc 100 miếng trầu, 3 mạch tiền kẽm đem đến đĩnh sở, hiệu trống trình nạp. Số trầu cau này để đãi các chức dịch, còn liến 3 mạch giao cho thủ từ để lo đèn nhang. Còn như việc ăn uống tiếp âm thì tuỳ nhà giàu, nhà khó không trách nhiều ít.

Lễ việc hỷ, việc hiếu và việc cấp tiền giúp nhau

Điều 6: Lễ việc hiếu.

     Phàm nhà nào có cha mẹ quy tiên thì hiếu tử đem trấu am đến giáp trưởng giáp ấy tường trình, giáp trưởng sẽ thân uỷ cho gia nhân đi báo khắp trong giáp đồ các đinh tráng tập trung ở nhà hiếu gia cho đồng đủ để tiện cử hành việc an táng. Nếu nhà hiếu có hảo tâm bày biện ăn uống mời bà con trong giáp thì càng tốt, nếu nhà nào nghèo khó chỉ có trầu cau tiếp đãi thì cũng không ai trách móc.

Điều 7: Lễ việc cấp tiền giúp nhau.

     Phàm nhà ai có việc hiếu hỷ thì gia chủ đem trầu cau tự đến các nhà xung quanh và anh em trong xã hỏi giúp cho, ước chừng trong vòng 3 ngày thì các nhà sẽ mang tiền hoặc gạo đến nhà có việc giúp cho họ, không phải truy lợi tức, cũng không phải mang nợ.

     Kỳ lão Phùng Văn Đa ký Kỳ mục Phùng Văn Hợp ký Cựu thứ chỉ Đỗ Văn Hác ký Tiên chỉ Phùng Văn Phiên ký Thứ chỉ Phùng Văn Du ký Lý trưởng Đỗ Thức…

     Xã Sơn Vi tổng Tường Phiêu huyệ” Tùng Thiện tình Sơn Tây. nay thuộc xã Tích Giang huyện Phùc, Thọ Bà NỘI.

     Từng nghe! Đạo là ở trong trời đã! gibng như khí nhất nguyên, cảm phát ở con người mà có được lê tự nhiên vậy.

     Nay các hương lão Khuất Danh Thụ, Khuát Quang Tích, Nguyễn Hữu Thiệu, Nguyễn Quang Vũ, Nguyền Hữu Thướng, Khuất Danh Định, Phùng Khuất Lực, Khuất Danh Cao. Hương trưởng Khuất Danh Hữu, Nguvễn Hữu Tựu, Khuất Đỗ Châu cùng các xã khán, chức dịch, bà con trên dưới xã Sơn Vi huyện Thạch Thất phủ Quòc Oai cùng hội họp tại đình, thuận tình tu sửa cho khắc mới bia đá. Bia ghi sẽ lập tại dinh, tuy chí truvền quy chế của một thời nhưng lại gầv dựng, lại làm dạo cương thường cho thiên cổ.


Tục lễ được khẩu truyền từ trước đến nay của dân xã

     Ngàỵ 18 tháng 2 nhuận năm Khải Định thứ 2 (1917) các kỳ mục lý địch xã Sơn Trung tổng Tường Phiêu huyện Tùng Thiện đã vâng sức trên kê khai các điều tục lễ được khẩu truyền từ trước đến nay của dân xã. Cụ thể như sau:

Tục lễ được khẩu truyền từ trước đến nay của dân xã

     Điều 1: Dân xã thờ phụng thần Tản Viên tại điện Mang Sơn. Hàng năm ngày mồng 6 tháng giêng có lễ rước thánh. Dân xã đã để lại 6 mẫu 6           sào ruộng công, giao cho lý phó trưởng cày cấy trưng thu cả năm lấy tiền hoa lợi, mỗi mẫu 5 nguyên, mua lễ vật cung phụng. Khi tế lẽ xong thì bày biện thành từng mâm để tiếp đãi khách thập phương đến lễ bái. (Do điện Mang Sơn cũng là Sơn Thánh Nam phương trấn cung).

Nay đặt lễ.

     Điều 2: Lễ dân xã có ruộng khuyến nồng tại xứ Vai Voi, cứ tháng chạp hàng năm thì giữ nước để tiện việc cày cấy, dân đinh chia đều làm 6 giáp, mỗi giáp chia đắp bờ ruộng này 1 năm, hết lượt lại trở lại ban đầu. Nếu giáp nào đã đắp bờ giữ nước vẫn chảy ra các ruộng thì bị thu mỗi sào là 3 mạch tiền kẽm để chi tiền vật liệu.

Nay đặt lễ.

     Điều 3: Lễ công việc tuân phòng. Dân trong xã chọn cử một thong minh, đảm đương được công việc sung làm phiên thủ, lại kê khai phiên định trong 6 giáp, mỗi giáp 2 người theo cùng phiên thủ tuần phòng ngày đêm. Nếu nhà nào mất trộm đồ vật gì mà phiên tuần có thể truy hồi đượcthì chiếu giá tang vật cứ 10 phần thì thưởng 1 phần. Nếu truy không đươc thì vẽ trách cứ, các phiên tuần phiên đinh chia ra bồi thường trả một phán cho người bị mất trộm. Hàng năm 2 vụ đông hạ khi thu hoạch thì cho luân phiên mỗi sào 1 lượm, mỗi lượm 3 nắm. Phàm là cả ngày lẫn đêm khi nào có trộm gây ra việc gì thì phiên phu đánh trống hiệu, trong xã bất kể già trẻ, tất cả mọi người đều đến nơi cứu giúp. Xong công việc, dân xã kiểm xét lại, nếu có người nào làm ngăn trở sự gì mà cố ý ở nhà sẽ bị phạt 1 quan tiền.

Nay đặt lễ.

     Điều 4: Lễ hội lão. Phàm trong xã người nào đến tuổi 55, mang một mâmxôi ước chứng 5, 6 đấu, 1 con gà béo, 1 chai rượu đến đình lễ. Lễ xong, số lễ vật giao lại cho dân xã. Đến khi các cụ 60, 70, 80 tuổi cũng như lệ này, nếu người nào giầu có đầy đủ mà có lòng tốt làm cỗ mời dân xã thì càng tốt.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lang viet nam

Các điều tục lễ từ xưa đến nay của dân xã

     Các Ngày 19 tháng 2 nhuận năm Khải Định thứ 2 (1917) các kỳ mục lý dịch xã Sơn Đông tổng Tường Phiêu huyện Tùng Thiện đã vâng sức trên kê khai các điều tục lễ từ xưa đến nay của dân xã. Các điều được kê khai dưới đây.

Các điều tục lễ từ xưa đến nay của dân xã

     Điều 1: Dân xã thờ phụng thần Tản Viên Sơn tại điện Mang Sơn, lễ hàng năm ngày mồng 8 tháng giêng có lễ rước thánh. Từ xưa dân xã đã có 9 mẫu ruộng tế giao cho 6 giáp luân phiên nhau canh tác để lo việc cúng tế. (Điện Mang Sơn cũng là Sơn Thánh Nam phương trấn cung).

    Điều 2: Tại điện Mang Sơn hàng năm ngày 25 tháng chạp cả 3 xã 6 thôn cùng tề hội tại điện Mang Sơn để làm lễ cải mã (làm lễ đốt mã).

Nay đặt lễ.

    Điều 3: Dân xã có ruộng khuyến nông tại xứ Đồng Muôn, tháng 11 hàng năm khơi nước ở sông cho nước chảy khắp đồng để thuận lợi cho việc luân lưu canh tác, thu mỗi sào 3 mạch để chi cho việc mua vật liệu.

Nay đặt lễ.

    Điều 4: Lễ kỳ lão. Phàm người nào đến tuổi 55 thì lên hội lão, đem trầu cau tường báo cho dân xã chiếu trừ giao dịch. Đến 60, 70, 80 tuổi cũng có lễ khao, nhiều ít tuỳ nghi.

    Hiểu 5: Lễ việc giá thú

Trong xã nhà nào có con gái đến tuổi gả chồng thì nộp lễ lan giai 3 mạch tiền kẽm, 1 buồng cau ước chừng 50 quả đem đến cồng HỞtrình nạp, Số tiền này giao cho thủ từ để lo đèn nhang thờ phụng,

    Điều 6: Lễ việc hiếu

Phàm ai có cha mẹ qua đời thì hiếu tử đem trầu cau báo với giáp trưởng tập hợp các nhân đinh trong giáp đến nhà hiếu giúp đỡ việc chôn cất. Còn như việc ăn uống, nghèo giàu tuỳ nghi, không trách nhiều ít.

Nay đặt lễ.

Kỳ lão Nguyên Năng Mộc ký

Kỳ cựu Nguyễn Hữu Chương ký

Kỳ mục Hoàng Văn Tảo ký

Lý trưởng Nguyễn Hữu ích.

     Xã Sơn Trung tổng Tường Phiêu huyện Tùng Thiện tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã Tích Giang huyện Phúc Thọ. Bản tục lễ của xã viết bằng chữ Nôm, được lưu giữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội, ký hiệu Hư.

     Xã này vốn không viết bản tục lễ, chỉ có khẩu truyền. Bản tục lễ này là do các viên chuyên kỳ lý được bản đường phái đi sưu tầm qua, trực tiếp nói chuyện rồi ghi lại được.


Đọc thêm tại: http://timhieuhuonguoc.blogspot.com/2015/07/lap-giao-uoc-khoan-tu.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: huong uoc la gi

Lập giao ước khoán từ

     Các quan viên hương lão, xã khán, thôn trưởng cùng toàn thể xã Phúc Đam, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai hội họp bàn bạc về lễ tế mùa thu. Vê lè thu tế có 1 chiếc hồ 7 sào và các mảnh ruộng cả thảy 7 sào và 1 đoạn mương trên từ Đuôi Nheo, dưới đến cống hồ, giao cho 3 phiên thay nhau trên nom thả cá, đã có khoán lộ rồi.

Lập giao ước khoán từ

     Nay toàn thể bản xã hội họp để bàn bạc định ra tiền thuế cho chiếc ao và đám ruộng này. Hàng năm cáo lễ vào ngày 14 tháng 8, chỉnh biện 1 con gà trống, 1 mâm xôi, 1 vò rượu, 500 tiền vàng, 50 khẩu trầu. Sai phu mõ đi thông báo cho tư văn các giáp và xã khán, chức dịch trước tiên làm lễ cáo yết. Đến ngày 15, sắm sửa thịt, xôi, rượu, tiền vàng, trầu cau, đèn nến y như lễ xuân tế. Ai nấy áo mũ chỉnh tề hành lễ đúng như nghi thức để tỏ lòng tôn kính thần linh. Lễ xong, chia lộc đều các tích 2 phần, còn 5 phần chia đều cùng thụ lộc. Lễ vật gà, lợn xôi chiểu theo lễ mà cân đong.

Nay đạt lễ.

Các xứ ruộng liệt kê dưới đây:

- Xứ Bồ Lư: một thửa 2 sào 9 thước 1 tấc 3 phân, 1 thửa 2 sào 12 thước 8 tấc. Một thửa 11 thước 2 tấc 6 phân ở xứ Quan Hàn. Một thửa 13 thước ở xứ Ruộng Chiêm.

Văn bản quy định này đầu tiên giao phó cho 3 phiên trong xã.

Ngày 20 tháng 2 năm Minh Mệnh 7 (1826) lập khoán từ.

Hương trưởng Nguyễn Gia Sủng ký

Trần Văn Hiêu ký

Xã trưởng Văn Hiền ký

Nguyễn Văn Mãn ký

Bùi Văn Khuyến điểm chỉ

Vương Văn Tán điểm chỉ

Vũ Đinh Cường điểm chỉ.

Các thủ phiên: Vương Văn Chi, Nguyễn Văn Liễu, Nguyễn Văn Lực điểm chỉ.

Toàn thể bản xã cùng ký và điểm chỉ.

Xã Sơn Đông tổng Tường Phiêu huyện Tùng Thiện tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã Tích Giang huyện Phúc Thọ. Bản tục lễ của xã viết bằng chữ Nôm, được lưu giữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội, ký hiệu Hư. 2638.

Xã này vốn không có bản tục lộ, chỉ có khẩu truyền. Bản tục lễ này là do các viên chuyên kỳ lý được bản đường phái đi sưu tầm qua, trực tiếp nói chuyện rồi ghi lại được.


Đọc thêm tại: http://timhieuhuonguoc.blogspot.com/2015/07/khoan-le-xa-phuc-ly.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: hương ước làng

Khoán lệ xã Phúc Lý

     Lại phát 7 đấu gạo nếp làm oản, chuẩn bị trước một ngày 2 mâm  xôi với 12 đấu gạo, mỗi đấu một cân; gà 2 con trị giá 3 mạch cổ tiền, 1 vò rượu, 20 khẩu trâu hành lễ trước. Sau khi lễ xong, thôn trưởng, những người giúp việc và nhà chùa, người trêng đền cùng thụ lộc. Đến ngày chính tế, chuẩn bị lễ cầu an gồm 1 con lợn, xôi mỗi giáp 4 cân, cũng theo cân trong lễ cầu phúc. 


       Trong đó phát trước 7 đấu gạo nếp cho bản tự làm oản, rượu 3 vò, trầu cau so khẩu.Lại phát cho bản tự 1 mạch tiền dâng sớ, phát cho thủ từ 1 mạch tiền đèn hương và 1 bát dầu.Sai phu mõ thông báo khắp các quan viên, hương lão, sắc mục, thôn trưởng và thủ phiên cùng tề tựu đầy đủ hành lễ. Lễ xong, căn cứ vào lễ quy định về số cân trong lễ cầu phúc mà phân đãi các tích. Còn bao nhiêu chia đều cho hai giáp thụ lộc thẩn.Phần thủ lợn dành biếu các viên mệnh bái, bồi bái, các chức sắc, thôn trưởng để giữ cho phong tục đô nhậu.Các đám ruộng hậu cả thảy 2 mẫu lại ủy thác cho 3 phiên chia đều, thay nhau canh tác. Hàng năm đến ngày đầu tháng giêng, đến người nào thuộc phiên nào canh tác thì thủ phiên của phiên đó thu trước tiền thuế ruộng đómỗi sào 7 mạch cổ tiền, tổng cộng là 14 quan, giao cho những người lo việc của bản xã để tiện việc chi tiêu, cũng là làm rõ phong tục, nên cẩn thận, không được làm trái hay vượt quá.


Các đám ruộng trên đây cả thảy bao nhiêu kê khai đầy đủ dưới đây:


-  Số ruộng dùng để làm lễ nhập tịch cả thảy là 1 mẫu: ở xứ Bồ Lô 1 thửa 4 sào, 1 thửa 1 sào; 1 thửa 3 sào ở xứ Bến Vọng; 1 thửa 1 sào ở Ruộng Nước; 1 thửa 1 sào ở Xứ Rạch.


-  Số ruộng dùng để làm lễ xuất tịch cả thảy 1 mẫu: [9a] 1 thửa 5 sào ở xứ Rạch; 1 thửa 2 sào ở xứ Bồ Lô; 1 thửa 3 sào ở xứ Đồng Noi.


-   Số ruộng dùng để làm lễ cầu an cả thảy 1 mẫu: 2 thửa 6 sào kề nhau ở xứ Bến Vọng; ở xứ BồLô 2 thửa, mỗi thửa 2 sào.


-   Số ruộng dùng để lễ kỵ hậu cả thảy 2 mẫu: ở xứ BồLô 1 thửa 4 sào, 1 thửa 2 sào và 1 thửa 1 sào, 1 thửa 1 sào ở xứ ĐồngNoi, 1 thửa 2 sào ở xứ Mả Lái xã Trung Đam, 1 thửa 2 sào ở xứ Tháp, 1 thửa 1 sào ở xứ Rạch, 1 thửa 1 sào ở xứ Ruộng Nước, 1. thửa 1 sào ở xứ Tháp.


-   Số ruộng các lễ trên đây và các đám ruộng giỗ hậu tổng cộng cả thảy 5 mẫu. Những người nhận canh tác nộp thuế theo như khoán lễ. Lễ vật khi chỉnh biện cốt sao cho tinh sạch, đổng đều. Việc giao nộp tiền thì cốt sao đúng thời hạn. Nếu sơ suất, thiếu sót nên phạt thị trượu trị giá 1 quan 2 mạch cổ tiền để giữ nghiêm khoán lễ.